You have 0 items in your cart
Hiện nay, hệ thống thuế của nước ta được cấu thành bởi rất nhiều sắc thuế khác nhau, một trong số đó là thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Trải qua quá trình phát triển và hoàn thiện, pháp luật thuế TNCN đã thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Do đó, Luật sư Hà sẽ phân tích thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thuế thu nhập cá nhân hiện nay.
-
Khái niệm “Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại, không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, thu vào một số khoản thu nhập cao chính đánh của cá nhân nhằm thực hiện việc điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội về thu nhập và góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
-
Đặc điểm
– Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác.
– Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân kinh doanh và không kinh doanh có thu nhập chịu thuế phát sinh.
– Thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân là các khoản thu nhập phát sinh từ kinh doanh, lao động và các khoản thu nhập khác không từ kinh doanh của các cá nhân.
2. Thực trạng chính sách pháp luật thuế thu nhập cá nhân
2.1 Quy định về thuế thu nhập cá nhân
Trước đây, nguyên tắc đánh thuế thu nhập đối với cá nhân dựa trên tiêu chí phân biệt công dân Việt Nam và người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau. Pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành đã có sự thay đổi chỉ dựa trên tiêu chí là yếu tố cư trú của đối tượng nộp thuế. Việc quy định như vậy đã tạo nên sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, đồng thời cũng tránh được sự phức tạp trong việc xác định đối tượng chịu thuế. Bên cạnh đó cũng thể hiện thiện chí của nước ta trong việc nỗ lực thực hiện chế độ đãi ngộ quốc gia, tạo môi trường mở và tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư nước ngoài khi làm việc và sinh sống tại Việt Nam.
2.1.2 Quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân
So với thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, Luật thuế thu nhập cá nhân có nhiều điểm mới trong quy định về đối tượng chịu thuế, cụ thể:
– Đưa thu nhập từ lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh, thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả mua bán chứng khoán) thuộc diện chịu thuế. Bởi hiện nay, số các doanh nghiệp cổ phần hóa tăng lên do vậy đưa vào thu thuế để kiểm soát tốt thu nhập của cá nhân đối với các loại thu nhập này, qua đó góp một phần vào NSNN.
– Đưa thu nhập từ lãi nhận được từ các hoạt động cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, nhóm cá nhân kinh doanh vay theo hợp đồng vay vào thu nhập chịu thuế.
– Đưa thu nhập từ thừa kế và quà tặng vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Và để phù hợp với thực tiễn Luật chỉ đưa vào thu nhập chịu thuế một số loại tài sản phải đăng kí quyền sở hữu như bất động sản, cổ phiếu,… và loại trừ các trường hợp thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi…. Điều này giúp Nhà nước kiểm soát được việc chuyển dịch tài sản, đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích mọi người lao động tự tạo thu nhập, không trông chờ, ỷ lại người khác.
2.1.3 Quy định về giảm trừ gia cảnh
Giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân là một quy định mới trong Luật Thuế thu nhập cá nhân thể hiện tính tiến bộ hơn rất nhiều so với pháp luật thuế thu vào thu nhập của cá nhân trước đây. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc chia sẻ gánh nặng về thuế đối với cá nhân có thu nhập, đồng thời góp phần vào việc thực hiện chính sách xã hội đối với những chủ thể cần được chia sẻ thu nhập từ cá nhân có thu nhập; đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, việc quy định và áp dụng vào thực tiễn trong thời gian qua đã phát sinh nhiều bất cập, gây khó khăn cho cá nhân có thu nhập chịu thuế, tác động không nhỏ đến quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của người phụ thuộc cũng như chính sách khuyến khích ủng hộ từ thiện, nhân đạo, đồng thời làm thất thoát nguồn thu NSNN.
2.1.4 Quy định về biểu thuế thu nhập lũy tiến từng phần
Chính sách thuế thu nhập cá nhân ở nước ta quy định áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công nhằm giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa cá nhân có thu nhập cao và cá nhân có thu nhập thấp. Tuy nhiên, biểu thuế lũy tiến từng phần hiện hành cũng bộc lộ những bất cập nhất định: Số lượng bậc thuế nhiều nên mức độ giãn cách giữa các bậc thuế chưa hợp lý; Mức khởi điểm nộp thuế thấp nên đại đa số người có thu nhập từ tiền lương, tiền công thấp phải chịu thuế thu nhập cá nhân, trong khi mức điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao chưa nhiều, dẫn đến khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp ngày càng lớn. Bên cạnh đó, quy định mức thuế suất cao nhất là 35% thực sự chưa khuyến khích được những người có trình độ kỹ thuật cao, năng lực điều hành tốt, các chuyên gia giỏi tham gia lao động, cống hiến cho xã hội, thậm chí hạn chế khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
2.1.5 Quy định về thủ tục kê khai, quyết toán thuế thu nhập cá nhân
Về khai thuế: Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn giảm tần suất khai thuế đã đơn giảm thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Tuy nhiên quy định về kê khai thuế thu nhập cá nhân còn chưa có cơ chế kiểm soát được mọi nguồn thu nhập của từng cá nhân bởi nguồn hình thành thu nhập quá đa dạng và phức tạp. Chính vì vậy gây nên thực trạng trốn thuế, gây thất thoát nguồn thu lớn cho NSNN.
Về quyết toán thuế: Nghị định 65/2013/NĐ-CP và Thông tư 111/2013/TT-BTC đã quy định để loại bỏ 5 trường hợp không phải quyết toán thuế nhằm giảm bớt thủ tục hành chính, giảm bớt khối lượng quyết toán thuế không cần thiết, tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Tuy nhiên, thực tế số đông người nộp thuế, kể cả những người có từ 2 nguồn thu nhập trở lên, đều ngại tự mình quyết toán thuế hoặc không rõ thủ tục tiến hành, nên ủy quyền cho đơn vị chi trả thu nhập thực hiện hộ. Từ đó, có thể làm thất thu NSNN hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của người nộp thuế.


