Trong những tình huống khẩn cấp, khi mà quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi một hành vi vi phạm pháp luật. Theo quy định, một người có quyền thực hiện những hành vi nhằm mục đích phòng vệ, ngăn chặn thiệt hại cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm.
Tuy nhiên trong thực tế không phải ai cũng biết được hành vi của mình như thế nào là hợp lý, trong trường hợp quyền và lợi ích bị xâm phạm thì phải ứng xử ra sao để không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Bài viết dưới đây sẽ “Hướng dẫn cách phòng vệ chính đáng mà không vi phạm pháp luật”
Căn cứ
Hiểu thế nào là phòng vệ chính đáng?

Bộ luật hình sự dành riêng một điều 22 để định nghĩa về phòng vệ chính đáng như sau:
Điều 22. Phòng vệ chính đáng
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Tại sao luật quy định là phòng vệ mà không phải tự vệ?
Tại sao luật quy định là phòng vệ mà không phải là tự vệ trong quy định này? . Bởi lẽ, tự vệ có nghĩa là tự bản thân ta bảo vệ cho chính mình mà không phải là bảo vệ người khác. Như vậy bảo vệ chỉ nằm trong phạm vi hẹp chỉ xét chính bản thân chúng ta đang chống trả lại người tấn công mình. Nếu trong trường hợp lợi ích của người khác bị xâm hại mà chúng ta thực hiện hành vi chống trả thì hành vi này không còn được xem là tự vệ nữa mà được xem là phòng vệ.
Nội hàm ý nghĩa của việc phòng vệ rộng hơn nhiều so với tự vệ, cũng vì lẽ đó mà quy định pháp luật đặt ra là phòng vệ để mang tính chất bao quát nhất có thể. Mà tự vệ cũng chính là một phần trong đó.
Điều này cũng cho thấy, pháp luật không chỉ khuyến khích chúng ta tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình mà còn khuyến khích bảo vệ lợi ích chính đáng của người khác.
Lấy ví dụ như A và B là vợ chồng với nhau chung sống rất hòa thuận. Bỗng một ngày, do làm ăn thua lỗ nên A bị C là xã hội đen đòi nợ. Hắn dí sát mũi dao lên cổ A đe dọa giết cả A và B nếu không trả nợ, chị vợ là B thấy thế dùng gậy từ phía sau đánh vào chân hắn giúp chồng chế ngự con dao trên tay C. Có thể hiểu thấy B đã sử dụng quyền phòng vệ để bảo vệ chồng và mình.
Việc nhận xét đâu là hành vi phòng vệ chính đáng còn khó khăn

Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây hiểu thế nào là chính đáng và cần thiết là không hề dễ dàng. Bởi lẽ, chính đáng và cần thiết đều là những yếu tố mang tính chất định tính nó phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của người áp dụng luật và khả năng đánh giá tình huống của người đó.
Tôi ví dụ dụ như đối với hành vi chống chả, có người thì cho rằng nó là cần thiết nhưng người khác thì lại cho rằng là không cần thiết và không có căn cứ.
Chính vì thế cần phải hiểu đúng và đủ khi nào thì hành vi được coi là phòng vệ ?. Điều kiện để hành vi đó được xem là phòng vệ chính đáng khi nào?
Điều kiện để hành vi được coi là phòng vệ chính đáng
Hành vi được xem xét là phòng vệ chính đáng khi và và chỉ khi đáp ứng đủ 03 điều kiện làm cơ sở phát sinh quyền phòng vệ như sau:
Một là, đối tượng có hành vi tấn công nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật.
Tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, ta xác định đối tượng có thể dùng tay chân, dao hoặc súng tấn công vào vị trí nào trên cơ thể của đối phương. Từ đó xác định hành vi này là trái quy định pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội.
Ví dụ như dùng chân đá vào vùng thái dương, vùng đầu của bị hại. Thì xác định đó là hành vi nguy hiểm đáng kể và trái pháp luật.
Hai là, hành vi tấn công phải xâm phạm quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức.
Ba là, sự tấn công phải đang hiện hữu thì bất cứ ai cũng phát sinh quyền phòng vệ;
Chỉ khi đáp ứng các yêu cầu trên thì bạn mới được phép thực hiện quyền phòng vệ của mình. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi bạn được phát sinh quyền phòng vệ rồi thì phải sử dụng quyền đó như thế nào mới được?. Liệu có phải thích làm gì thì làm, phòng vệ như thế nào cũng được hay sao?
Không phải lúc nào phòng vệ cũng được xem là chính đáng, cần thiết

Luật cho phép cá nhận thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng tuy nhiên hành vi đó xét về:
Mục đích: phải nằm ngăn chặn sự tấn công. Hành vi này hướng tới chính người đang có hành vi tấn công mình.
Mức độ thiệt hại tương xứng với phòng vệ. Ví dụ như người đe dọa dùng chân tay, đánh khống chế bạn nhưng bạn lại dùng dao với súng để chống trả gây ra tổn thương cho người khác nhiều hơn những gì người ta gây ra với bạn thì có thể hiểu đây là phòng vệ vượt quá mức cần thiết.
Trên đây là bài viết Hướng dẫn cách phòng vệ chính đáng mà không vi phạm pháp luật. Nếu bạn có thêm thắc mắc nào hoặc công việc cần hỗ trợ tư vấn pháp lý hãy liên hệ với chúng tôi qua đường dây nóng: 0911 038 386 hoặc qua hòm thư điện tử: luatsu.thuongha@gmail.com
Có thể bạn quan tâm:
Thủ tục thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam như thế nào?
Thủ tục đăng ký đầu tư/ cấp giấy chứng nhận đầu tư gồm những gì?
Vụ cựu Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son bị cáo buộc nhận hối lộ 3 triệu USD
Thành lập đăng ký hộ kinh doanh cá thể
4 điều cần lưu ý khi làm thủ tục cấp hộ chiếu phổ thông lần đầu
Chế tài xử phạt hành vi xâm phạm quyền tác giả
Thủ tục khởi kiện đơn phương ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2014




