HẬU QUẢ PHÁP LÝ TRONG TRƯỜNG HỢP SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT?
Việc chấm dứt hợp động đối với người lao động hay thường gọi là sa thải được ra quyết định bởi người sử dụng lao động. Người lao động – với vị trí “người yếu thế hơn” trong mối quan hệ, rất dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích trong quá trình này. Chính vì vậy, câu hỏi được đặt ra là nếu quá trình chấm dứt quan hệ này trái với pháp luật, hậu quả pháp lý đối với người sử dụng lao động là như thế nào?
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật lao động 2019
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP
- Nghị định số 28/2020/NĐ-CP
Theo quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tại Điều 41 của BLLĐ 2019 là:
Trường hợp 1:
Theo Khoản 1, Điều 41, Người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động phải hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu người lao động đã nhận của người sử dụng lao động chi trả.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của BLLĐ 2019 thì phải trả cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
Trường hợp 2:
Nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì theo quy định của Khoản 2, Điều 41, BLLĐ 2019 quy định ngoài khoản tiền phải trả bao gồm tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 BLLĐ để chấm dứt hợp đồng lao động.
Trợ cấp thôi việc:
Quy định về tiền trợ cấp thôi việc:
“ Điều 46. Trợ cấp thôi việc
…Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc…”
Tuy nhiên theo quy định tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP:
“Điều 8. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật Lao động, trừ các trường hợp sau:
Tiền đóng bảo hiểm:
Khoản đóng bảo hiểm ở đây bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp:
Theo đó quy định về tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Điều 89, Luật Bảo hiểm xã hội 2014:
“ Điều 89. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
… 2. Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động…”
Mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc đồng thời là mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng các khoản bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho người lao động.
Trường hợp 3:
Người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì theo Khoản 3, Điều 41, BLLĐ 2019 quy định ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả bao gồm tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 41 thì người sử dụng lao động còn phải chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của BLLD.
Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Đồng thời, theo Điểm d, Khoản 2, Điều 18, Nghị định số 28/2020/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi kỷ luật lao động trái quy định của pháp luật.
Kết luận
Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật sư Hà về “HẬU QUẢ PHÁP LÝ TRONG TRƯỜNG HỢP SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT?”. Nếu quý khách hàng có nhu cầu tư vấn các vấn đề liên quan đến người lao động mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 0911 038 386 hoặc gửi thư về địa chỉ luatsu.thuongha@gmail.com để nhận được hỗ trợ tư vấn.
Một số câu hỏi thường gặp
1.Người lao động là gì?
Người lao động là các cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thể là làm việc bằng sức lao động hay là lao động trí óc, thông qua hành vi lao động trên thực tế mà được trả lương, làm việc dưới sự quản lý của người sử dụng lao động.
2. Hiểu thế nào là sa thải?
Sa thải là hình thức kỉ luật lao động dẫn đến quan hệ lao động của người lao động bị chấm dứt, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Có thể bạn quan tâm
Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2020
Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên theo luật doanh nghiệp 2020





