Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những quy định về hệ thống cơ cấu tổ chức, quản lý công ty cổ phần với thành viên độc lập HĐQT. Bài viết dưới đây sẽ đưa cho quý vị cái nhìn rõ ràng hơn của quy định pháp luật về thành viên độc lập HĐQT:
1. Khái niệm thành viên độc lập HĐQT
Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đều không trực tiếp đưa ra định nghĩa thành viên độc lập HĐQT mà chỉ đưa ra các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên độc lập HĐQT được quy định tại khoản 2 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác), cụ thể:
a) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó;
b) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;
c) Không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;
d) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;
đ) Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ.
Dựa trên các điều kiện trên, có thể hiểu rằng thành viên độc lập HĐQT là người không trong ban điều hành, không liên quan tới công việc kinh doanh, không đang hưởng lợi ích của doanh nghiệp, không có mối quan hệ gia đình hoặc mối quan hệ khác mà có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra ý kiến độc lập và khả năng hành động một cách có lợi nhất cho công ty.
2. Điều kiện trở thành thành viên độc lập HĐQT
Bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chung đối với thành viên HĐQT, thành viên độc lập HĐQT còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện riêng. Các quy định điều kiện riêng về tính độc lập của thành viên độc lập HĐQT trong CTCP tại khoản 2 Điều 155 LDN năm 2020 có thể chia thành hai nhóm như sau:
Thứ nhất, bao gồm các điều kiện đảm bảo tính độc lập về quan hệ tài sản. Đây là nhóm các tiêu chuẩn, điều kiện giúp đảm bảo rằng những quyết định của thành viên độc lập trong HĐQT không nhằm thu những khoản lợi ích về tài sản cho chính cá nhân và người liên quan của họ gồm: Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ CTCP, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định; Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của CTCP.
Thứ hai, bao gồm các điều kiện đảm bảo tính độc lập về quan hệ nhân thân. Đây là nhóm các điều kiện để đảm bảo thành viên độc lập trong HĐQT không có bất kì mối liên hệ nào với CTCP, bao gồm cả mối liên hệ với cá nhân, tổ chức thuộc CTCP, trong một khoảng thời gian nhất định trước đó gồm: Không phải là người đang làm việc cho CTCP, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó; Không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ.
Trước đây, theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng có quy định các điều kiện “Không làm việc tại các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty trong 02 năm gần nhất” và “Không phải là đối tác hoặc người liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty chiếm từ ba mươi phần trăm (30%) trở lên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào của công ty trong 02 năm gần nhất” nhưng đến Nghị định 71/2017/NĐ-CP hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng thay thế cho Thông tư 121/2012/TT-BTC và hiện tại là Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán đều đã loại bỏ các điều kiện này. Việc loại bỏ 02 điều kiện này là hợp lí bởi:
+ Một là: những người tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty thuộc trường hợp những người đang làm việc cho công ty, đã từng làm việc cho công ty (điểm a khoản 2 Điều 155 LDN 2020). Pháp luật hiện hành thì đã có quy định chặt chẽ hơn (không chỉ đã từng làm việc cho công ty mà bao gồm cả công ty mẹ và công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó); mở rộng phạm vi đối tượng hơn (người đang làm việc hoặc đã từng làm việc cho công ty bất kể là công việc gì thuộc trường hợp quy định đều không thể là thành viên độc lập HĐQT chứ không chỉ mỗi tư vấn pháp luật và kiểm toán).
+ Hai là: đối tác hay người liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty lớn trong vòng 02 năm nếu họ là thành viên độc lập HĐQT của công ty thì quyết định họ đưa ra chắc chắn sẽ hướng đến lợi ích của họ. Do đó, như một sự thật hiển nhiên là họ không thể là thành viên độc lập HĐQT.
Tuy nhiên các điều kiện, tiêu chuẩn mà pháp luật quy định cho thành viên độc lập HĐQT cũng chưa đảm bảo tính khả thi, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi thị trường lao động cho đối tượng này còn khá hạn chế và chưa có cơ sở đào tạo chuyên nghiệp cho các đối tượng làm thành viên độc lập trong HĐQT. Do đó, nhiều doanh nghiệp chấp nhận tìm thành viên độc lập HĐQT theo kiểu “cho có”, các thành viên độc lập HĐQT chưa thực sự đóng góp nhiều ý kiến phản biện có giá trị cho doanh nghiệp như mục tiêu mà pháp luật đặt ra.
Số lượng thành viên độc lập HĐQT
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 137 LDN 2020, CTCP lựa chọn mô hình quản lí không có ban kiểm soát thì phải có ít nhất 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT. Cụ thể hóa quy định của LDN 2020 về CTCP nói chung, Nghị định 155/2020/NĐ-CP hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chung nói riêng tại khoản 4 Điều 276 quy định: “a) Có tối thiểu 01 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 03 đến 05 thành viên; b) Có tối thiểu 02 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 06 đến 08 thành viên; c) Có tối thiểu 03 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 09 đến 11 thành viên.”
Với sự tiếp thu mô hình quản lý CTCP mới từ nhiều quốc gia trên thế giới, các nhà quản lý CTCP có thêm phương án lựa chọn đó là mô hình không có BKS mà có Ủy ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT với các thành viên độc lập, sự tồn tại của các thành viên độc lập HĐQT đã thể hiện sự công khai, minh bạch trong hoạt động của CTCP, làm các cổ đông yên tâm hơn và thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn. Tuy nhiên quy định tỉ lệ 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập là quá ít, theo như quy định thì Ủy ban kiểm toán có tối thiểu 2 thành viên vậy nếu HĐQT chỉ có 2 thành viên độc lập còn lại là 8 thành viên HĐQT thì rất khó để có thể đảm bảo việc giám sát được khách quan. Bên cạnh đó, trong thực tiễn áp dụng việc tìm kiếm thành viên độc lập HĐQT là rất khó vì ở Việt Nam chưa có nhiều chuyên gia đủ uy tín và năng lực để đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện mà pháp luật quy định. Thống kê từ Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) đến cuối tháng 7/2017 có 20% công ty niêm yết tại Sở không có thành viên độc lập HĐQT, 30% số công ty có thành viên độc lập HĐQT nhưng không đảm bảo tỉ lệ theo quy định.
3. Bầu thành viên độc lập HĐQT
Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 138 LDN 2020, ĐHĐCĐ là cơ quan có thẩm quyền bầu thành viên HĐQT (bao gồm cả thành viên độc lập) phù hợp với các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định và Điều lệ của CTCP. Việc biểu quyết bầu thành viên HĐQT phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của HĐQT và cổ đông có quyền dồn hết hoặc một phần tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên. Nghị quyết bầu thành viên HĐQT được thông qua khi được số cổ đông sở hữu trên 50% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành (Điều 148 LDN 2020). Theo nguyên tắc, người trúng cử thành viên HĐQT được xác định bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số thành viên quy định tại Điều lệ công ty.
4. Quyền lợi, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT
Trên thực tế, thành viên HĐQT trong CTCP chủ yếu là những người của cổ đông lớn do đó các quyết định của HĐQT phần nào đó nghiêng về phía lợi ích của họ nên có thể đưa ra các quyết định xâm phạm hay bỏ qua lợi ích hợp pháp của các cổ đông thiểu số, các chủ thể có quyền lợi liên quan khác. Chính vì vậy, để giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy giám sát, quản lý CTCP mà vẫn đảm bảo sự minh bạch, khách quan, pháp luật Việt Nam đã tiếp thu mô hình quản lý CTCP có UBKT thuộc HĐQT với thành viên độc lập HĐQT. Trên cơ sở nguyên tắc quản trị, thành viên độc lập HĐQT được thiết kế nhằm mục đích tăng cường tính độc lập của HĐQT và họ đảm nhận luôn chức năng giám sát. Các thành viên độc lập HĐQT có quyền lực và nghĩa vụ pháp lý như thành viên còn lại của HĐQT do đó họ có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm GĐ/TGĐ và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Tuy nhiên, nghĩa vụ chủ yếu của thành viên độc lập HĐQT là giám sát tính trung thực trong quá trình ra quyết định của HĐQT và rà soát tình trạng lạm quyền của bộ phận điều hành. Bởi với đặc điểm là những đối tượng độc lập, không có quan hệ về lợi ích hoặc quan hệ về nhân thân với những người quản lý, điều hành, những cố đông lớn của CTCP nên những ý kiến, quyết định mà thành viên này đưa ra sẽ đảm bảo tính khách quan và thường hướng đến trước hết là lợi ích chung cho CTCP.
Theo quy định, thành viên HĐQT được nhận thù lao và thưởng theo kết quả hoặc hiệu quả kinh doanh, trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của thành viên HĐQT được trả theo quy định sau:
– Thành viên độc lập HĐQT được hưởng thù lao công việc và tiền thưởng. Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên HĐQT và mức thù lao mỗi ngày;
– Được thanh toán chi phí ăn, ở, đi lại và chi phí hợp lý khác khi thực hiện nhiệm vụ được giao;
– Thù lao của thành viên độc lập Hội đồng quản trị được tính vào chi phí kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
LDN 2020 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đều quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên HĐQT mà có quy định riêng nào về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT, chỉ quy định tiêu chuẩn để trở thành thành viên độc lập. Việc thiếu vắng những quy định này có thể dẫn đến những hệ lụy ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò, cũng như hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT trong cơ cấu quản trị của CTCP. Thiếu cơ sở pháp lý để hoạt động, thành viên độc lập trong HĐQT không xác định được vai trò, trách nhiệm của mình trong CTCP là gì cũng không có cơ chế nào để đánh giá tính độc lập của họ. Chính vì vậy, hoạt động của thành viên độc lập HĐQT tại các CTCP ở Việt Nam hiện nay còn mang tính hình thức, chưa thể hiện được vai trò độc lập của mình như các lý thuyết và thông lệ tốt về quản trị công ty đã thừa nhận. Tuy nhiên, sự hiện diện của thành viên độc lập trong HĐQT phần nào đáp ứng được kỳ vọng của các cổ đông, nhà đầu tư, bảo vệ được cổ đông nhỏ, tạo ra đối trọng để hài hòa lợi ích giữa các nhóm cổ đông, đồng thời quan tâm tới cả những chủ thể khác, bảo vệ được uy tín của CTCP, giữ được lòng tin của khách hàng, “giữ chân” được người lao động… hạn chế được những thiệt hại cho doanh nghiệp.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật sư Hà về vấn đề “Thành viên độc lập HĐQT“. Nếu quý khách hàng có nhu cầu thực hiện đăng ký thành lập công ty cổ phần mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 0911 038 386 hoặc gửi thư về địa chỉ luatsu.thuongha@gmail.com để nhận được hỗ trợ tư vấn.
Một số bài viết có liên quan:
Thế nào là thành viên Hội đồng quản trị có lợi ích liên quan?


