You have 0 items in your cart
Cầm giữ tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, để các bên tham gia vào các giao dịch dân sự có nhiều phương án lựa chọn biện pháp bảo đảm trong ký kết hợp đồng. Do đó, Luật sư Hà sẽ bình luận về quy định cầm giữ tài sản theo quy định pháp luật hiện hành.
-
Khái niệm “Cầm giữ tài sản”
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 bố sung cầm giữ tài sản vào một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã góp phần giải quyết một số tranh chấp trong thực tiễn, tuy nhiên nó còn tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, Luật sư Hà xin đưa ra một số bình luận về quy định cầm giữ tài sản trong BLDS 2015 và từ đó rút ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định này.
Điều 346 BLDS năm 2015 quy định “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Như vậy, cầm giữ tài sản mang những đặc điểm sau:
(i) Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng mà không dựa trên sự thỏa thuận của các chủ thể trong giao dịch;
(ii) Tài sản trong quan hệ cầm giữ là đối tượng của hợp đồng song vụ, có thể là động sản hoặc bất động sản;
(iii) Nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ tài sản cầm giữ;
(iv) Phát sinh trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Quy định về “Cầm giữ tài sản”
– Chủ thể của cầm giữ tài sản: (i) Bên cầm giữ là bên có quyền lợi bị xâm phạm do việc không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận của bên có nghĩa vụ gây ra; (ii) Bên bị cầm giữ là bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong hợp đồng được bảo đảm bằng cầm giữ. Các bên trong quan hệ cầm giữ có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu về năng lực chủ thể.
– Đối tượng của cầm giữ tài sản: Tài sản cầm giữ là đối tượng của hợp đồng song vụ để bảo đảm cho chính việc thực hiện nghĩa vụ liên quan đến tài sản bị cầm giữ đó.
– Về xác lập cầm giữ tài sản: Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (Điều 347 BLDS năm 2015). Việc không đăng ký biện pháp bảo đảm không ảnh hưởng đến hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm giữ tài sản.
– Quyền và nghĩa vụ của các bên: BLDS năm 2015 tại Điều 348, 349 quy định rất cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ tài sản, tương ứng với đó sẽ là nghĩa vụ và quyền của bên bị cầm giữ. Ví dụ: Bên cầm giữ có nghĩa vụ “Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện” thì bên bị cầm giữ sẽ có quyền “Đòi lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện”.
– Chấm dứt cầm giữ tài sản: Các trường hợp chấm dứt cầm giữ được quy định tại Điều 350 BLDS năm 2015: (i) Bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế; (ii) Các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ; (iii) Nghĩa vụ đã được thực hiện xong; (iv) Tài sản cầm giữ không còn; (v) Theo thỏa thuận của các bên.
3. Hạn chế và kiến nghị
– Đối tượng của cầm giữ tài sản: Theo quy định hiện hành, đối tượng của biện pháp cầm giữ tài sản là tài sản nói chung (có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản hình thành trong tương lai). Về bản chất pháp lý, cầm giữ tài sản gắn liền với việc chiếm giữ về mặt vật chất của tài sản nên biện pháp cầm giữ tài sản chỉ có thể áp dụng được với tài sản hữu hình, như vậy quy định tại Điều 346 BLDS có thể dẫn đến cách hiểu sai về đối tượng của cầm giữ tài sản. Như vậy, cần sửa đổi, làm rõ quy định về đối tượng của biện pháp cầm giữ tài sản cho phù hợp theo hướng quy định chỉ những tài sản hữu hình mới có thể trở thành đối tượng của biện pháp cầm giữ.
– Về căn cứ xác lập cầm giữ tài sản: Bên có quyền được cầm giữ tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ mà không cần xem xét đến việc nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng là do nguyên nhân nào. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng có thể do sự kiện bất khả kháng hoặc do nguyên nhân khách quan khác mà bên có quyền được cầm giữ tài sản là không phù hợp. Cần có văn bản hướng dẫn quy định rõ nội dung của vấn đề này.
– Về phạm vi của cầm giữ tài sản: Cầm giữ theo quy định chỉ giới hạn trong phạm vi hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều trường hợp cầm giữ tài sản đối với “quan hệ song vụ” không phải là “hợp đồng song vụ” nhưng chưa có quy định điều chỉnh vấn đề này. Quan hệ song vụ nếu được áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản thì quyền của bên bị vi phạm nghĩa vụ sẽ được bảo vệ hiệu quả hơn. Như vậy, BLDS cần ban hành văn bản hướng dẫn nhằm mở rộng phạm vi áp dụng cầm giữ tài sản cho quan hệ song vụ.
– Về thời hạn cầm giữ tài sản: Việc không đặt ra thời hạn cầm giữ cụ thể như hiện nay gây khó khăn, bất lợi cho bên có quyền bởi không biết sẽ phải cầm giữ trong bao lâu thì bên vi phạm nghĩa vụ mới hoàn thành nghĩa vụ. Do đó, cần bổ sung quy định về thời hạn để biện pháp này được thực thi hiệu quả trên thực tế.
– Về hậu quả khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ: Theo quy định tại Điều 348 BLDS, bên cầm giữ chỉ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ chứ không được xử lý tài sản cầm giữ. Như vậy, để đảm bảo được quyền của bên cầm giữ tài sản và phát huy được bản chất của một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì cần thiết phải cho phép bên cầm giữ có quyền xử lý tài sản cầm giữ và bổ sung thêm quy định về xử lý tài sản cầm giữ là một trong những căn cứ chấm dứt cầm giữ.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề “Cầm giữ tài sản“. Nếu quý khách hàng có nhu cầu thực hiện đăng ký thành lập công ty cổ phần mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 0911 038 386 hoặc gửi thư về địa chỉ luatsu.thuongha@gmail.com để nhận được hỗ trợ tư vấn.
Một số bài viết liên quan:



