Điện thoại
0911 038 386
Email liên hệ
easystartlawfirm.vn@gmail.com
Giờ làm việc
08:30-18:00
Gọi ngay

PHÂN TÍCH MỘT SỐ CĂN CỨ LY HÔN THEO TRƯỜNG HỢP LY HÔN

Easy Start Law Firm > Tin tức > PHÂN TÍCH MỘT SỐ CĂN CỨ LY HÔN THEO TRƯỜNG HỢP LY HÔN

PHÂN TÍCH MỘT SỐ CĂN CỨ LY HÔN THEO TRƯỜNG HỢP LY HÔN

PHÂN TÍCH 1 SỐ CĂN CỨ LY HÔN THEO TRƯỜNG HỢP LY HÔN

Căn cứ pháp lý

Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định các căn cứ để Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn bao gồm hai căn cứ tại Điều 55 (Thuận tình ly hôn) và Điều 56 (Ly hôn theo yêu cầu của một bên). Đây là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 với việc chuyển căn cứ lý hôn từ Điều luật riêng (điều 89 – Luật HN&GĐ 2000) vào trong quy định của điều ly hôn trong luật năm 2014.

Việc đưa ra những nguyên nhân của hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được để cụ thể hóa căn cứ cho ly hôn “vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm ngh nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên. Điều này cũng tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc ly hôn trong cả nước.

Căn cứ ly hôn tron trường hợp thuận tình ly hôn (Điều 55)

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân, được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.

Theo quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Như vậy, trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân, tức ly hôn

Trong thuận tình ly hôn, vợ và chồng được tự do bày tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn. Việc giải quyết ly hôn dựa trên các điều kiện nhất định phải được tiến hành ở Tòa án nhân dân, pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận và đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng của hai bên vợ chồng.

Vợ chồng thuận tình ly hôn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con. Nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định giải quyết việc ly hôn.

Tuy pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con” nhưng ta có thể hiểu rằng, không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con là việc thỏa thuận về tài sản, nhân thân, con cái của hai bên làm ảnh hưởng hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu của vợ và con. Thông qua quy định này, ta có thể thấy được pháp luật HN&GĐ Việt Nam có xu hướng bảo vệ phụ nữ và trẻ em – “thế yếu” trong quan hệ HN&GĐ.

Căn cứ ly hôn trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 56)

Ly hôn theo yêu cầu của một bên hay ly hôn đơn phương là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên hay ly hôn đơn phương:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3.Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Quy định về căn cứ ly hôn do một bên yêu cầu của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 có tính chi tiết, cụ thể hơn Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000. Điều 91 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên: “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”.

Quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 vẫn còn mang tính chung chung và chưa mô tả đầy đủ các trường hợp, căn cứ ly hôn.

Như vậy, từ sự kế thừa của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 đã có những điểm mới, tiến bộ hơn về các căn cứ ly hôn quy định tại Điều 56. Khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án phải tiến hành xác định tình trạng quan hệ hôn nhân đó và áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết, việc giải quyết ly hôn cần phải chính xác và đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể.

Theo đó, có ba căn cứ để chấm dứt quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của một bên, cụ thể:

Căn cứ ly hôn thứ nhất: khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Trong trường hợp này, tòa án sẽ tiến hành hòa giải nếu vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn. Trường hợp hòa giải không thành, tòa án xem xét yếu tố lỗi của chồng hoặc vợ (bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng hoặc vợ) dẫn đến việc hôn nhân tan vỡ.

Về hành vi bạo lực gia đình: Theo khoản 2 Điều 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 quy định về khái niệm bạo lực gia đình:“2. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”.

Các hành vi được coi là hành vi bạo lực gia đình được liệt kê rất cụ thể tại Khoản 1, Điều 2, Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007:

“1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.”

Một bên vợ hoặc chồng có một trong số các hành vi kể trên đều bị coi là có hành vi bạo lực gia đình. Hành vi vi phạm đó tác động tới một bên vợ hoặc chồng, làm ảnh hưởng không nhỏ tới thể lực, trí lực, tâm tư tình cảm của vợ hoặc chồng, làm rạn nứt quan hệ tình cảm trong thời kỳ hôn nhân.

Tình trạng bạo lực trong gia đình ngày càng gia tăng và thể hiện tính chất nghiêm trọng xảy ra với nhiều lý do khác nhau. Việc Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như vậy phù hợp với thực tiễn hiện nay. Bởi qua thực tiễn giải quyết các án ly hôn của Tòa án cho thấy số vụ ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh đập chiếm tỉ lệ cao nhất và phụ nữ đa phần là nạn nhân của tình trạng này.

Về hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng:

Quy định tại Điềug 17 Luật HN&GĐ 2014: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.”

Hôn nhân của vợ chồng là do cả vợ và chồng xây dựng, vun đắp lên. Nhưng khi các bên không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình đối với vợ, chồng, đối với cuộc hôn nhân thì quan hệ hôn nhân đó sẽ dần đổ vỡ và dẫn tới bế tắc.

Hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định giai quyết việc ly hôn cho vợ và chồng. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về việc: hành vi vi phạm như thế nào được coi là nghiêm trọng? Hiện nay, quy định này chỉ mang tính chất chung chung và chưa có hướng dẫn áp dụng cụ thể.

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung điểm mới so với Luật HN&GĐ năm 2000 khi quy định rõ “bạo lực gia đình và hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng” gây đến hậu quả là tình trạng hôn nhân trở lên trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, ,mục đích của hôn nhân không đạt được là căn cứ để giải quyết cho các bên ly hôn.

Tuy nhiên, đời sống hôn nhân có nhiều điểm mâu thuẫn, xung đột tồn tại không thể khắc phục được trong cuộc sống vợ chồng là vốn một thực trạng khá phổ biến. Quy định này khá chung chung, chưa rõ ràng, khó xác định thế nào là tình trạng vợ chồng rơi vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, và mục đích hôn nhân không đạt được?

Tại mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, có hướng dẫn để hiểu thế nào là tình trạng vợ chồng rơi vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, và mục đích hôn nhân không đạt được, theo đó:

Thứ nhất, được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần;

Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; hoặc vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhờ, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Thứ hai, để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Thứ ba, mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau”. Quan hệ vợ chồng là quan hệ tình cảm nên không thể mang ra để cân đo. Quy định về bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống cũng rất trừu tượng, mơ hồ. Việc đánh giá các yếu tố đó chỉ mang tính chất chủ quan của Thẩm phán.

Luật chỉ quy định được về những hành vi hành động, còn những hành vi không hành động thì còn nặng nề hơn nhiều, tuy nhiên, pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể, chi tiết. Nhìn chung, có thể hiểu quy định này của pháp luật quy định về vấn đề vợ chồng xa lánh nhau, không giúp đỡ nhau trong cuộc sống hôn nhân; việc làm của họ làm mất đi tính chất của quan hệ vợ chồng là cùng nhau chung sống.

Đồng thời, ngoài việc không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống thì vấn đề vợ chồng xa lánh nhau, bỏ mặc nhau đã được người bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi.

Nhưng việc hiểu như thế nào được quy định là được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; bao nhiêu lần là nhiều. Về mặt khách quan, ta có thể hiểu hơn hai lần là nhiều lần, tuy nhiên, về mặt pháp lý thì pháp luật cần quy định chính xác, cụ thể hơn nữa để căn cứ ly hôn được áp dụng đúng đắn nhất, bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Có thể thấy rằng việc đưa ra những nguyên nhân của hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được để cụ thể hóa căn cứ cho ly hôn “vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” trong Luật HN&GĐ năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Đây là một quy định rất tiến bộ mang ý nghĩa quan trọng nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong tiến trình hội nhập quốc tế. Điều này cũng tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc ly hôn trong cả nước.

Căn cứ ly hôn thứ hai: trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người có vợ hoặc chồng bị mất tích, để họ có cuộc sống mới. Trong quan hệ HN&GĐ, việc chồng hoặc vợ bị mất tích đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Cần phải giải phóng chồng thoát khỏi hoàn cảnh đặc biệt này, khi họ có yêu cầu được ly hôn với người vợ hoặc chồng đã bị tòa án tuyên bố mất tích.

Khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”

Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người cụ thể không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết. Người bị Tòa án tuyên bố mất tích khi người đó biệt tích từ 02 năm liền trở lên.

Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết. Do đó, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích (Khoản 1, Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015).

Nếu vợ hoặc chồng của người bị mất tích yêu cầu ly hôn đồng thời với yêu cầu tuyên bố mất tích thì Tòa án căn cứ vào những chứng cứ chứng minh người bị mất tích theo quy định để tuyên bố mất tích và cho ly hôn.

Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án đối với vợ hoặc chồng không đương nhiên làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, mặc dù nó được xác định là một căn cứ ly hôn. Chỉ khi có yêu cầu ly hôn của đương sự thì Tòa án mới giải quyết cho ly hôn. Nếu đương sự không yêu cầu ly hôn thì quan hệ hôn nhân vẫn đương nhiên tồn tại.

Việc quy định căn cứ ly hôn này xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của vợ, chồng, nhằm đảm bảo cả lợi ích của người có quyền và lợi ích liên quan. Đồng thời, hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế khách quan, giải quyết nhiều vấn đề trong hôn nhân

Căn cứ ly hôn thứ ba: trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Tại Khoản 2, Điều 51 trong Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định:

“2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân 55 của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”.

Khoản 3 Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 cũng có quy định:

“3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”.

Cha mẹ – con cái vốn là mối quan hệ ruột thịt, cha mẹ là người sinh ra con cái, mối quan hệ này vẫn được xem là khăng khít, bền chặt, tình cảm và 56 trách nhiệm trong các mối quan hệ. Mối quan hệ, cũng như trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng giữa cha mẹ đẻ – con ruột cũng được pháp luật xem như một trách nhiệm đương nhiên, gắn liền với mỗi cá nhân từ khi sinh ra và không thể chối từ.

Luật HN&GĐ chưa có quy định cụ thể về việc cha, mẹ có thể yêu cầu giải quyết ly hôn trong trường hợp trên là những ai. Tuy nhiên, từ Điều 51 Khoản 2 ta có thể ngầm hiểu cha mẹ của cả hai bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Ngoài cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì người thân thích cũng có quyền tương tự. Khái niệm người thân thích trong Luật HN&GĐ được quy định tại Điều 3 Khoản 19: “Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời”

Như vậy,Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe; quy định này góp phần giải quyết những bất cập của Luật HN&GĐ năm 2000.

Kết luận

Trên đây là tư vấn của Luật sư Hà về “PHÂN TÍCH MỘT SỐ CĂN CỨ LY HÔN THEO TRƯỜNG HỢP LY HÔN”. Nếu quý khách hàng có nhu cầu thực hiện tư vấn liên quan đến hôn nhân mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 0911 038 386 hoặc gửi thư về địa chỉ luatsu.thuongha@gmail.com để nhận được hỗ trợ tư vấn.

Có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên theo luật doanh nghiệp 2020

Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 hiện nay

Các hình thức khuyến mại theo quy định của Luật Thương mại 2005

Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014

Nhượng quyền thương mại và đại lý thương mại theo Luật thương mại 2005

 

Leave a Reply

Tôi giúp gì được cho bạn!

Bạn đang cần tư vấn về pháp luật. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

Gọi ngay: 0911 038 386

haminhluat.luatsu@gmail.com Thứ 2- Thứ 7 08:30-18:00

Liên hệ ngay

Bài viết mới

Hồ sơ, thủ tục công nhận điểm du lịch theo Luật Du lịch 2017
13/11/2024
Hướng dẫn 02 cách để kiểm tra nhãn hiệu định đăng ký có bị trùng hay không?
Hướng dẫn 02 cách để kiểm tra nhãn hiệu định đăng ký có bị trùng hay không?
13/11/2024
Hướng dẫn cách phòng vệ chính đáng mà không vi phạm pháp luật
Hướng dẫn cách phòng vệ chính đáng mà không vi phạm pháp luật theo BLHS 2015
12/08/2022
Call Now Button