Một số quy định của pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật (NKT) như sau:
Pháp luật về giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật là những quy định pháp lý được xây dựng nhằm loại bỏ những bất công mà NKT đang phải gánh chịu, xóa bỏ các cơ chế khiến người NKT bị tách biệt ra ngoài xã hội, đồng thời tăng cường cơ hội việc làm bình đẳng cho họ trong thị trường lao động.
Nội dung pháp luật giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao gồm một số quy định cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định về quyền được có việc làm của người khuyết tật.
Việc làm cho NKT được cả Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đặc biệt quan tâm. UN quy định: các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của NKT, bằng cách thực thi những bước phù hợp, bao gồm cả các biện pháp luật pháp.
ILO hướng dẫn thúc đẩy cơ hội việc làm bình đẳng cho NKT không bao gồm việc ngăn cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật. Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật.
Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2012 khẳng định: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” (Khoản 1 Điều 176).
Quyền làm việc của lao động khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho NKT tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân.
Thứ hai, quy định về chính sách học nghề và việc làm cho người khuyết tật
Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ – CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật đã có những quy định chi tiết về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật.
Theo đó, Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho NKT được lựa chọn, tư vấn và học nghề, làm việc theo khả năng, sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, không được từ chối tuyển dụng những người lao động khuyết tật có đủ tiêu chuẩn…
Thứ ba, quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh đối với người khuyết tật
Học nghề và việc làm cho NKT luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Bộ luật Lao động tại khoản 2 Điều 176 quy định: “Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng lao động là người khuyết tật”.
Đối với cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề cho NKT thì phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho NKT; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngoài ra, được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là NKT, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp.
Đây là những quy định ưu đãi góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, cải thiện môi trường làm việc để NKT tiếp cận với công việc.
Thứ tư, quy định về quỹ việc làm cho người khuyết tật
Với mục đích giúp đỡ người khuyết tật học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT; hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhân NKT vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quy định về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho NKT là một vấn đề quan trọng và cần thiết.
Luật Người khuyết tật năm 2010, tại Điều 10 quy định về quỹ trợ giúp NKT. Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp NKT và quỹ này được hình thành từ các nguồn như: đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; các khoản thu hợp pháp khác.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện nguồn quỹ này vẫn đang còn nhiều bất cập.
Thứ năm, quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người khuyết tật
Trước đây, Bộ luật Lao động quy định về thời gian làm việc của NKT không quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần với mục đích tạo điều kiện cho NKT làm việc trong giới hạn phù hợp với khả năng và sức khoẻ của mình, giúp họ phục hồi sức khoẻ một cách nhanh chóng, có khả năng làm việc lâu dài và đạt năng suất.
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, quy định đã thể hiện sự bất cập, tạo ra sự phân biệt giữa lao động khuyết tật và lao động không khuyết tật. Người sử dụng lao động dựa vào quy định này để từ chối nhận NKT vào làm việc vì họ không đáp ứng được thời gian làm việc như các lao động khác. Tuy nhiên, NKT lại khẳng định, họ có thể làm tốt công việc như những người lao động không khuyết tật.
Chính vì vây, Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2012 không quy định về thời giờ làm việc của NKT như trước để góp phần tạo ra môi trường làm việc công bằng giữa NKT và người không khuyết tật.
Thứ sáu, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người khuyết tật
Điều 177 Bộ luật lao động 2012 quy định: “Người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lao động là người khuyết tật và thường xuyên chăm sóc sức khoẻ của họ”.
Pháp luật nhấn mạnh đến việc đảm bảo các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người tàn tật; cấm làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm đối với lao động khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51%; cấm sử dụng người lao động khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
Như vậy, người sử dụng lao động không được vì lợi ích trước mắt của mình để thỏa thuận làm thêm giờ, làm việc ban đêm, hoặc trường hợp chủ sử dụng lao động lợi dụng người lao động khuyết tật vào làm những công việc nặng nhọc độc hại cho sức khỏe của họ.
Kết luận
Trên đây là tư vấn của Luật sư Hà về “Một số quy định của pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật”. Nếu quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về việc làm mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 0911 038 386 hoặc gửi thư về địa chỉ luatsu.thuongha@gmail.com để nhận được hỗ trợ tư vấn.
Có thể bạn quan tâm
Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên theo luật doanh nghiệp 2020
Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 hiện nay
Các hình thức khuyến mại theo quy định của Luật Thương mại 2005
Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014
Nhượng quyền thương mại và đại lý thương mại theo Luật thương mại 2005




